Lý do thực sự khiến số lượng người Nhật sống tại Việt Nam đang giảm dần

Lý do thc s khiến s lượng người Nht sng ti Vit Nam đang gim dn

 

 

Những năm gần đây, mặc dù số doanh nghiệp Nhật Bản mở rộng sang Việt Nam vẫn không ngừng tăng lên, nhưng ngược lại, số lượng người Nhật đang sinh sống tại Việt Nam lại đang ngày càng giảm đi.

Chỉ cần nhìn vào khu phố Nhật ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng có thể dễ dàng nhận ra số lượng người Nhật đã ít đi đáng kể.

Và khi nhìn vào những con số thống kê, kết quả còn đáng ngạc nhiên hơn.

 

 

Trước tiên là về số lượng doanh nghiệp.

Năm 2016, có 1.687 doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động tại Việt Nam. Đến năm 2024, con số này đã tăng lên 2.543 doanh nghiệp. Có thể thấy số doanh nghiệp Nhật đang tăng trưởng ổn định.

Thế nhưng, số người Nhật sinh sống tại Việt Nam lại hoàn toàn trái ngược. Sau khi đạt đỉnh khoảng 23.000 người vào năm 2020, con số này liên tục giảm và đến năm 2025 chỉ còn 16.636 người.

Điều đó đồng nghĩa với việc số lượng người Nhật làm việc tính trên mỗi doanh nghiệp đang giảm mạnh.

 

Vậy nguyên nhân là gì? Và điều này có liên quan như thế nào đến sự phát triển của Việt Nam trong tương lai? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu thông qua nội dung lần này.

 

 

Lý do thứ nhất là chi phí cho nhân sự phái cử (tức việc cử nhân viên người Nhật sang nước khác làm việc) quá cao.

Phần lớn doanh nghiệp Nhật đều áp dụng các quy định nội bộ với cơ chế như sau:

  • Giữ nguyên chế độ lương như khi làm việc tại Nhật.
  • Công ty chi trả chi phí nhà ở, xe cộ và sinh hoạt.
  • Có thêm phụ cấp công tác ở nước ngoài.

 

Nhờ các phúc lợi như trên, nhân viên có thể yên tâm làm việc tại nước ngoài. Tuy nhiên, xét về chi phí thì đây là một khoản đầu tư rất đắt đỏ.

Tổng chi phí cho một nhân viên được cử sang Việt Nam thường cao gấp khoảng 1,5 đến 2 lần so với khi họ còn làm việc tại Nhật.

Và tất nhiên, khoản chi phí này sẽ do pháp nhân tại Việt Nam (tức là công ty con tại Việt Nam) chi trả. Nhưng với mức chi phí như vậy, việc tạo ra lợi nhuận trở nên vô cùng khó khăn.

 

Một lý do khác là số lượng người Việt Nam ưu tú, có tay nghề cao đang tăng lên nhanh chóng.

Tôi bắt đầu sang Việt Nam từ năm 2007 và làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin (IT).

Thời điểm đó, tôi từng nhờ một công ty CNTT lớn của Việt Nam cài đặt máy chủ. Nhưng ngay cả việc làm đúng theo hướng dẫn họ cũng chưa thực hiện được.

Các chương trình họ phát triển cũng thường chưa thể sử dụng ngay, nên những phần quan trọng vẫn phải do người Nhật đảm nhiệm.

Thế nhưng hiện nay, tình hình đã hoàn toàn khác.

 

 

Không chỉ trong ngành CNTT, mà cả lĩnh vực dịch vụ cũng vậy. Ngày càng có nhiều người Việt làm trong ngành dịch vụ có thể phục vụ khách hàng với phong cách chuyên nghiệp, chu đáo, mang đậm tinh thần Nhật Bản.

Sau đây là một trải nghiệm thực tế của chính tôi.

 

Vào một buổi sáng sớm, tôi đáp xuống Nhật Bản sau chuyến bay dài và đi thẳng đến khách sạn. Lúc đó trời mưa lất phất nên khi đến nơi, người tôi đã ướt mưa khá nhiều.

Vì còn sớm, chưa đến giờ nhận phòng nên tôi gửi hành lý tại quầy lễ tân. Tuy nhiên, dù thấy tôi đang ướt sũng, nhân viên chỉ nhận hành lý rồi xong, hoàn toàn không có bất kỳ sự quan tâm, hỏi han nào.

Đúng là tôi bị ướt do chính mình, không phải lỗi của khách sạn, nhưng rõ ràng, đây không phải là phong cách phục vụ khách hàng mà Nhật Bản đã luôn tự hào với thế giới.

 

Ngược lại, tại một khách sạn ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã nhận được sự tiếp đón trên cả tuyệt vời.

Lúc đó, một cặp vợ chồng bạn của tôi đang lưu trú tại khách sạn đó. Sau khi họ trả phòng, chúng tôi đã gửi lại hành lý ở đó rồi cùng nhau đi ăn.

Khi quay lại khách sạn lấy đồ để ra sân bay thì trời bắt đầu mưa. Ba người chúng tôi chạy vội vào khách sạn và cả ba đều bị ướt.

Nhìn thấy chúng tôi, ngay lập tức, một nhân viên khách sạn cầm khăn chạy đến.

Điều đáng nói là dù lưu trú tại đó chỉ có hai người, thế nhưng nhân viên vẫn chu đáo mang ba chiếc khăn, đủ cho cả ba người chúng tôi.

Tôi đã thật sự cảm động trước cách phục vụ này và đã gửi tiền tip cho người nhân viên đó.

Và sau hai trải nghiệm nêu trên, bên nào có cách ứng xử tuyệt vời hơn thì đã quá rõ ràng.

 

Dĩ nhiên, tôi không có ý đánh đồng là tất cả người Việt đang làm việc trong ngành dịch vụ đều có thể phục vụ một cách chuyên nghiệp như vậy. Nhưng có thể thấy rất rõ rằng ngày càng có nhiều người biết tự suy nghĩ và chủ động hành động, thay vì chỉ làm theo những gì được yêu cầu.

 

Ngược lại, cũng không phải tất cả người Nhật đều cư xử thiếu tinh tế. Tất nhiên vẫn có rất nhiều người làm việc vô cùng tận tâm và chu đáo. Tuy nhiên, sự thật là ngày càng có nhiều người nghĩ rằng chỉ cần làm đúng theo quy trình là đủ.

 

 

Khi tình hình như vậy, các nhà điều hành doanh nghiệp Nhật Bản sẽ có suy nghĩ gì?

Họ sẽ nghĩ rằng thay vì tốn kém quá nhiều chi phí để cử nhân viên người Nhật sang làm việc dài hạn, chỉ cần tuyển những người Việt Nam có năng lực là được.

Ở giai đoạn đầu, chỉ cần cử người Nhật sang hướng dẫn trong thời gian ngắn, sau đó giao lại cho nhân sự Việt Nam đảm nhiệm.

Có lẽ chính vì thế mà dù số doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam vẫn tăng lên, số người Nhật sinh sống tại Việt Nam lại ngày càng giảm.

 

Nhật Bản từng phát triển nhờ vào việc mỗi cá nhân đều có sự chăm chút, kỹ lưỡng trong công việc, từ ngành dịch vụ cho đến các kỹ thuật sản xuất trình độ cao. Nhưng giờ đây, người Việt cũng đang dần hoàn thành được những việc mà trước đây nhiều người cho rằng chỉ người Nhật mới có thể làm được.

Nếu nói Nhật Bản vẫn còn nhỉnh hơn một chút, thì đó là về mặt bằng chất lượng chung.

Ở Nhật, người giỏi rất nhiều, nhưng người bình thường cũng làm việc khá tốt. Nên dù ở đâu thì nhìn chung công việc vẫn đạt một tiêu chuẩn tối thiểu nhất định.

Trong khi đó, tại Việt Nam, sự chênh lệch giữa người làm tốt và người làm chưa tốt vẫn còn khá lớn. Bên cạnh những người có phong cách phục vụ rất xuất sắc, vẫn còn không ít người có cách làm việc chưa đạt yêu cầu.

 

Nói cách khác, Nhật Bản có chất lượng trung bình rất cao, còn Việt Nam thì nhóm giỏi đang phát triển với tốc độ rất nhanh, nhưng mặt bằng chung vẫn chưa theo kịp.

Nếu Việt Nam có thể nâng cao năng lực của nhóm phía dưới và cải thiện chất lượng chung của toàn xã hội, thì tôi tin rằng tương lai của đất nước này sẽ còn rực rỡ hơn nữa.

 

 

Đối với Việt Nam, đây chính là thời điểm vàng để bứt phá. Khi ngày càng nhiều người Việt sở hữu năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm và phong cách phục vụ đạt chuẩn quốc tế, cơ hội để đất nước khẳng định vị thế trên bản đồ thế giới chưa bao giờ rõ ràng đến thế.

 

Về phía Nhật Bản, nếu có thể khơi lại tinh thần tận tâm và niềm tự hào trong công việc vốn từng làm nên tên tuổi của mình, hai quốc gia sẽ không phải là đối thủ của nhau, mà sẽ cùng cạnh tranh, học hỏi và thúc đẩy nhau phát triển.

 

Liệu trong một tương lai không xa, Việt Nam có thể trở thành quốc gia được cả thế giới nhắc đến như một hình mẫu về chất lượng nguồn nhân lực và dịch vụ? Câu trả lời sẽ phụ thuộc vào chính những gì chúng ta làm từ hôm nay.

 

 

Tác giả: Abe Kengo

Biên dịch: Lê Phương Kỳ

Xem thêm: